Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị thảo luận tại tổ đối với dự thảo Luật Thương mại điện tử
Chiều ngày 03/11/2025, Quốc hội thảo luận tại tổ đối với dự thảo Luật Thương mại điện tử (TMĐT). Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị tham gia thảo luận tại tổ 10 dưới sự điều hành của đại biểu Hoàng Đức Thắng - Phó trưởng Đoàn chuyên trách phụ trách Đoàn.
Đại biểu Hoàng Đức Thắng - khắc phục khoảng trống khi nhiều vấn đề mới chỉ điều chỉnh ở cấp nghị định
Tham gia thảo luận đối với dự thảo Luật, đại biểu phân tích: khoản 2 Điều 6 có quy định về hành vi “Kinh doanh hoặc tạo điều kiện cho người khác kinh doanh hàng giả…”. Với quy định cấm “tạo điều kiện” cho người khác kinh doanh hàng giả, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ là quá chung chung, dễ dẫn đến cách hiểu rằng chủ sàn TMĐT bị xem là vi phạm chỉ vì có người bán đăng hàng giả trên sàn. Cụm từ “tạo điều kiện” không rõ ràng mức độ trách nhiệm (cố ý hay vô ý). Ngoài ra, việc cấm kinh doanh hàng giả, xâm phạm sở hữu trí tuệ đã được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ và các luật khác. Từ đó, đề nghị Ban soạn thẻo xem xét điều sửa đổi lại khoản 2 Điều 6 theo hướng xác định rõ trách nhiệm của sàn TMĐT (ví dụ: “không được tiếp tay cố ý cho hành vi kinh doanh hàng giả…”), hoặc dẫn chiếu trách nhiệm cụ thể của sàn tại các Điều 13, 15 thay vì dùng cụm từ mơ hồ. Đồng thời, bảo đảm quy định này phù hợp với luật chuyên ngành (Quảng cáo, SHTT) để tránh sự chồng chéo.

Đại biểu Hoàng Đức Thắng điều hành phiên thảo luận
Đối với Điều 15 quy định về Trách nhiệm của chủ quản nền tảng thương mại điện tử trung gian, khoản 2 quy định về xác thực danh tính người bán nước ngoài; dự thảo quy định: “…Trường hợp người bán nước ngoài, xác thực danh tính thông qua các giấy tờ chứng minh hoạt động kinh doanh hợp pháp”. Từ đó có thể dẫn đến 2 cách hiểu: “người bán nước ngoài” là gì? Có phải thiếu từ “ở” hay không? Như vậy, sẽ được viết lại thành: “…người bán ở nước ngoài,…” Hoặc có thể hiểu rằng "người bán là người nước ngoài" nghĩa vụ xác thực thuộc về ai. Từ đó, đề nghị ban soạn thảo viết rõ ràng hơn, chẳng hạn: “Đối với người bán là thương nhân nước ngoài, chủ quản nền tảng phải xác thực danh tính người bán thông qua giấy tờ chứng minh hoạt động kinh doanh hợp pháp.” Cách diễn đạt này đủ chủ ngữ vị ngữ, giúp người đọc hiểu ngay trách nhiệm thuộc về chủ sàn.
Ngoài ra, điểm b khoản 6 buộc chủ sàn trung gian “yêu cầu người bán phải sử dụng tài khoản thanh toán của mình khi thực hiện giao dịch trên nền tảng”, theo đại biểu, quy định này chưa rõ mục đích và có thể mâu thuẫn với thực tiễn thanh toán. Nhiều sàn TMĐT hiện nay triển khai mô hình thanh toán qua trung gian (ví dụ: người mua thanh toán vào ví hoặc tài khoản do sàn quản lý, sàn giữ tiền và giải ngân cho người bán khi giao dịch hoàn tất) để đảm bảo an toàn giao dịch và hỗ trợ hoàn tiền nếu có khiếu nại. Yêu cầu người bán dùng “tài khoản của mình” có thể hiểu rằng tiền phải chuyển thẳng vào tài khoản người bán, loại bỏ cơ chế trung gian giữ tiền. Điều này mâu thuẫn với thông lệ thương mại điện tử và có thể giảm bảo vệ người mua (vì khó đòi lại tiền nếu người bán không giao hàng). Ngoài ra, quy định này có thể chồng chéo với pháp luật về thanh toán: hoạt động trung gian thanh toán, ví điện tử đã được Ngân hàng Nhà nước quy định, sàn TMĐT thường hợp tác với các tổ chức trung gian thanh toán – cần làm rõ liệu yêu cầu này có cấm mô hình ví trung gian hay không. Từ đó, ý kiến đề nghị Ban soạn thảo giải thích rõ khoản 6(b) theo hướng: sàn phải yêu cầu mỗi người bán khai báo một tài khoản ngân hàng hợp pháp đứng tên họ để định danh trong thanh toán, chứ không cấm việc tiền thanh toán đi qua cổng trung gian. Nếu mục tiêu là chống gian lận và đảm bảo truy xuất dòng tiền, nên bổ sung rằng thanh toán phải thực hiện qua tổ chức trung gian được cấp phép và người bán phải sử dụng tài khoản định danh của chính mình tại tổ chức đó.
Thứ ba, đại biểu góp ý tại Khoản 1(b) Điều 16 quy định mạng xã hội cho phép bán hàng (mở gian hàng, nhóm mua bán…) phải thực hiện các trách nhiệm từ khoản 1 -5 Điều 15 và điểm a Khoản 1 Điều 16; trường hợp có tích hợp chức năng liên lạc trực tuyến thì “phải có công cụ cho phép người bán và người mua xác nhận nội dung giao dịch thông qua chức năng liên lạc trực tuyến”. Theo đại biểu, dự thảo luận yêu cầu như thế này chưa rõ cách thực thi. Nhiều giao dịch trên mạng xã hội diễn ra qua chat (nhắn tin riêng), thường thỏa thuận miệng hoặc bằng tin nhắn. Việc “xác nhận nội dung giao dịch” có thể hiểu là cần một nút hoặc cơ chế để hai bên chốt đơn chính thức trên nền tảng sau khi chat. Tuy nhiên dự thảo không nêu rõ xác nhận đó có giá trị pháp lý như hợp đồng điện tử hay không, và nếu các bên không dùng công cụ đó (ví dụ chốt mua bán bằng lời nói qua điện thoại ngoài nền tảng) thì sao? Ngoài ra, triển khai kỹ thuật công cụ này có thể phức tạp đối với mạng xã hội không vốn thiết kế cho thương mại. Do đó, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo cần hướng dẫn hoặc giao cho Bộ ngành quy định cụ thể dạng công cụ xác nhận: ví dụ tin nhắn xác nhận đơn hàng có mã giao dịch, hoặc tích hợp “giỏ hàng” ngay trong “khung chat”. Đồng thời, bổ sung quy định công nhận pháp lý: nội dung đã xác nhận qua công cụ này được coi là chứng cứ giao kết hợp đồng (liên thông với Luật Giao dịch điện tử) sẽ khả thi hơn.
Thứ tư, Khoản 2 Điều 19 buộc người bán cung cấp đầy đủ thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; không cần cung cấp các thông tin có tính chất riêng biệt trên nhãn hàng hóa về ngày sản xuất, hạn sử dụng, số lô.... Theo đại biểu, việc miễn cho người bán không phải đăng các thông tin như hạn sử dụng, ngày sản xuất trên sàn TMĐT có thể gây bất lợi cho người tiêu dùng. Những thông tin này thường rất quan trọng khi mua thực phẩm, mỹ phẩm, thuốc… Người mua online không trực tiếp cầm sản phẩm nên càng cần biết hạn sử dụng, lô sản xuất để kiểm tra nguồn gốc. Loại trừ chúng khỏi thông tin bắt buộc có thể dẫn đến hiểu lầm (VD: sản phẩm cận ngày nhưng người mua không hay biết vì sàn không hiển thị). Mặc dù pháp luật hiện hành yêu cầu các thông tin này trên bao bì sản phẩm vật lý, nhưng trong giao dịch điện tử, việc minh bạch thông tin từ trước khi mua cũng là quyền lợi người tiêu dùng. Từ đó, đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc, xem xét bổ sung quy định linh hoạt: với những loại hàng hóa mà hạn sử dụng ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định mua (như thực phẩm, dược phẩm…), sàn hoặc người bán vẫn phải cung cấp thông tin về hạn sử dụng nếu hạn còn lại dưới một khoảng thời gian nhất định. Hoặc ít nhất, yêu cầu người bán phải đảm bảo hàng giao có hạn sử dụng đủ dài theo tiêu chuẩn (như Bộ Y tế thường quy định hàng thực phẩm chức năng phải còn ≥ 6 tháng hạn dùng khi bán) để dung hòa giữa việc không cần thiết đăng mọi chi tiết lô/date, nhưng vẫn bảo vệ người tiêu dùng khỏi mua nhầm hàng cận hoặc hết hạn.
Góp ý thêm về quy định tại khoản 2, Điều 21, người bán chỉ được livestream bán hàng sau khi có văn bản xác nhận nội dung quảng cáo đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện phải xác nhận và nội dung livestream phải phù hợp với nội dung quảng cáo đã được duyệt. Tương tự, khoản 4, Điều 22, yêu cầu người livestream thực hiện đúng nội dung quảng cáo đã được cơ quan thẩm quyền xác nhận, các quy định này nhằm kiểm soát quảng cáo sản phẩm nhạy cảm (thuốc, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm…) trên livestream, nhằm ngăn chặn người bán không “quảng cáo chui” vượt quá nội dung được duyệt theo Luật Quảng cáo. Tuy nhiên, việc lặp lại quy định của Luật Quảng cáo trong Luật TMĐT có thể dẫn đến chồng chéo xử phạt. Do đó, theo tôi Ban soạn thảo cân nhắc vẫn giữ yêu cầu này, để ràng buộc trách nhiệm trên sàn, nhưng cần cơ chế phối hợp. Có thể bổ sung: “Chủ thể vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật về quảng cáo; Chủ quản sàn phải phối hợp cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý quảng cáo”. Ngoài ra, nên hướng dẫn quy trình liên thông: ví dụ nếu phát hiện người bán livestream quảng cáo sai phép, Bộ Công Thương sẽ thông báo Bộ VH-TT-DL xử lý, tránh chồng chéo. Điều này vừa đảm bảo tuân thủ Luật Quảng cáo, vừa không tạo gánh nặng chế tài trùng lặp.
Đối với quy định về “khu hỗ trợ thương mại điện tử xuyên biên giới” tại Khoản 4 Điều 40 liệt kê Nhà nước có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh xuất khẩu trong khu hỗ trợ TMĐT xuyên biên giới, bao gồm phát triển hệ sinh thái thanh toán, kho vận, hạ tầng kỹ thuật, ưu đãi thông quan, kho ngoại quan…. đại biểu đề nghị bổ sung khái niệm trong giải thích từ ngữ tại Điều 3 và bổ sung quy định rõ về cách thức vận hành các khu hỗ trợ này... Từ đó, đề nghị Ban soạn thảo xem xét bổ sung giải thích thuật ngữ hoặc giao Chính phủ quy định về “khu hỗ trợ TMĐT xuyên biên giới”.
Ngoài ra, đại biểu cũng đề xuất bổ sung một số nội dung ngoài dự thảo rà soát các điều liên quan đến nội dung levestram là điểm nóng của dư luận trong thời gian gần đây, đó là các vụ việc những người có ảnh hưởng (người nổi tiếng) KOL đã bị cơ quan chức năng xử lý hình sự vì livestream quảng cáo sản phẩm là hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc, sai công dụng,… Đề nghị bổ sung các quy định về quản lý KOL, trách nhiệm MXH, đăng ký và chế tài đặc thù sẽ tạo hành lang pháp lý rõ ràng và nghiêm minh hơn cho thương mại điện tử Việt Nam. Đồng thời, kết hợp với Luật Quảng cáo và Luật Bảo vệ người tiêu dùng để có bộ công cụ pháp luật đầy đủ để ngăn chặn triệt để tình trạng “KOL tiếp tay hàng giả”, quảng cáo lừa dối người tiêu dùng, góp phần xây dựng môi trường thương mại điện tử lành mạnh, bền vững.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn THị Tuyết Nga - Đề nghị làm rõ một số nội dung quy định trong Luật
Đánh giá cao Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo đã khẩn trương chuẩn bị nghiêm túc Dự án Luật Thương mại điện tử (TMĐT) đại biểu cho rằng Báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Kinh tế tài chính rất sâu sắc, toàn diện, cụ thể.
Về tổng thể, đại biểu nhận thấy Dự án Luật đã thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến lĩnh vực TMĐT. Trên cơ sở kế thừa, phát triển quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động TMĐT; đã tạo điều kiện tốt hơn để thúc đẩy phát triển TMĐT và tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực TMĐT trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ góp phần tạo cú hích cho nền kinh tế số.

Đại biểu Nguyễn Thị Tuyết Nga góp ý dự thảo Luật Thương mại điện tử
Tuy nhiên, theo đại biểu, cần xác định rõ hơn phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Luật; định vị rõ vị trí, vai trò của Luật TMĐT trong hệ thống pháp luật, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật bởi Luật TMĐT có liên quan rất nhiều Luật, có những luật thông qua tại kỳ họp này.
Thứ hai, Dự thảo Luật TMĐT được xây dựng với mục tiêu hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về thương mại điện tử, nội dung của Dự thảo Luật kế thừa nhiều quy định của Nghị định số 52/2013/NĐ- CP ngày 16/5/2013 và Nghị định số 85/2021/NĐ-CP ngày 25/9/2021 của Chính phủ, vì thế, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, rà soát, lựa chọn các quy định hiện hành để kế thừa và đưa vào Dự thảo Luật. Đảm bảo xây dựng Dự thảo Luật theo tinh thần của Nghị quyết 66-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 30/04/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, tránh “luật hoá nghị định”.
Thứ ba, theo đại biểu, cần bảo đảm tính hài hòa, hợp lý, khả thi, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại điện tử. Cần có lộ trình phù hợp áp dụng đối với các nghĩa vụ, trách nhiệm mới đảm bảo tính khả thi. Đồng thời, có chính sách hỗ trợ, chuyển đổi phù hợp, nhất là đối với cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh nhỏ lẻ, doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Góp ý về một số vấn đề cụ thể, thứ nhất, đại biểu phân tích livestream bán hàng là một xu hướng phát triển nhanh chóng. Quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động livestream bán hàng giống như một hoạt động quảng cáo đi kèm với bán hàng, mà chưa có các quy định riêng về các chủ thể tham gia livestream (chủ tài khoản, người tham gia livestream); chưa định danh chủ tài khoản, nghĩa vụ nộp thuế và các vấn đề về kiểm soát thông tin trong quá trình livestream.
Thực tiễn đã có nhiều vụ việc như các phiên livestream bán hàng nhiều tỷ đồng nhưng nhà nước không thu được thuế; hàng giả, hàng nhái, thực phẩm chức năng trôi nổi… ẩn nấp dưới các buổi phát trực tiếp chưa được kiểm soát hiệu quả ảnh hưởng rất lớn đến quyết định mua hàng và sức khỏe của người tiêu dùng. Vì vậy, Dự thảo đã luật hóa khái niệm livestream bán hàng và bổ sung trách nhiệm pháp lý cho các nền tảng Mục 3, chương 3 Dự thảo Luật là cần thiết.
Tuy nhiên, đại biểu cũng đề nghị rà soát tập trung vào những nội dung mang tính chất đặc thù của các hoạt động trên môi trường điện tử, chưa được điều chỉnh hoặc chưa được quy định riêng tại các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể, rõ nội dung quản lý nhà nước gắn với công cụ quản lý, mục tiêu quản lý cụ thể. Cụ thể, nội hàm của khái niệm “quảng cáo” và “livestream bán hàng’ có nhiều điểm tương đồng. Điểm a khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo 2025 quy định: “Quảng cáo là việc sử dụng người, phương tiện nhằm giới thiệu đến người tiếp nhận quảng cáo về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ”. Và Khái niệm “chức năng livestream bán hàng” như (Điều 3 Dự thảo Luật TMĐT quy định: “là chức năng của nền tảng thương mại điện tử truyền tải truyền phát trực tiếp âm thanh, hình ảnh nhằm quảng cáo, giới thiệu về hàng hoá, dịch vụ và cho phép đặt hàng thông qua chức năng đặt hàng trực tuyến trên nền tảng đó
Hiện Luật Quảng cáo đã có quy định cụ thể các điều kiện quảng cáo, yêu cầu về nội dung quảng cáo, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể có liên quan khi tham gia hoạt động quảng cáo trên mạng. Vì vậy, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, rà soát, bảo đảm sự thống nhất giữa các quy định về hoạt động livestream bán hàng của Dự thảo Luật với quy định về điều kiện quảng cáo của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo năm 2025. Cân nhắc bổ sung quy định mang tính dẫn chiếu yêu cầu các bên phải tuân thủ quy định về điều kiện quảng cáo, điều kiện quảng cáo sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đặc biệt theo quy định của pháp luật về quảng cáo.
Về dịch vụ tiếp thị liên kết trong TMĐT và trách nhiệm của các chủ thể có liên quan trong hoạt động tiếp thị liên kết, đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định theo hướng phản ánh rõ bản chất của hoạt động Tiếp thị liên kết là quảng cáo, các chủ thể có liên quan khi thực hiện hoạt động Tiếp thị liên kết phải thực hiện trách nhiệm tương ứng của các chủ thể là người quảng cáo, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người phát hành quảng cáo, người chuyển tải sản phẩm quảng cáo theo pháp luật về quảng cáo; quy định những nội dung mang tính chất đặc thù của hoạt động Tiếp thị liên kết trong TMĐT.
ĐB Nguyễn Mạnh Cường – Luật Thương mại điện tử cần quy định bao quát để không bỏ sót đối tượng và đảm bảo tính khả thi
Đối với một số nội dung: khoản 11, Điều 3 về chức năng live stream bán hàng, đại biểu phân tích: nếu những đối tượng live stream bán hàng nhưng lại không thực hiện giao dịch mua bán trên nền tảng đó mà chuyển giao dịch ra ngoài nền tảng thì sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật này. Từ đó đề nghị điều chỉnh mở rộng phạm vi điều chỉnh để tăng tính bao quát, không bỏ sót đối tượng. Tương tự, khái niệm “người bán” được quy định tại dự thảo chưa bao quát đối tượng khi người bán là người cung cấp nền tảng điện tử, vừa là người kinh doanh trực tiếp trên nền tảng; Từ đó, đại biểu cũng đề nghị điều chỉnh khái niệm để đảm bảo không bỏ sót đối tượng này.

Đại biểu Nguyễn Mạnh Cường phát biểu tại phiên thảo luận tổ
Ngoài ra, đại biểu đặt ra vấn đề: quy định việc yêu cầu nền tảng có công cụ để kiểm soát những nội dung được quảng cáo, bán hàng trên nền tảng thì có thực sự hiệu quả và khả thi hay không? Từ đó, đề nghị cần có đánh giá tác động đối với vấn đề này. Đại biểu cũng đưa ra đề xuất: cần có đánh giá tác động thực tế xem các nền tảng hiện nay đã có thể có công cụ kiểm soát tự động trước thông tin hàng cấm, hàng giả trước khi những đối tượng này cho đăng tải trên nền tảng hay chưa, cần chi phí, hạ tầng kỹ thuật ra sao để thực hiện được yêu cầu này; từ đó, cần có lộ trình phù hợp với sự khuyến khích, hỗ trợ về mặt quản lý nhà nước để hỗ trợ các nền tảng nhỏ dần tuân thủ được yêu cầu.
Đối với quy định chủ nền tảng có trách nhiệm liên đới để thực hiện bồi thường với người mua, theo đại biểu, rất khó để thực hiện được điều này và đề nghị cần quy định rõ người bán chịu trách nhiệm đến đâu? Chủ nền tảng chịu trách nhiệm đến đâu khi phải tuân thủ quy định bồi thường.
Diệu Linh
- Đại biểu Nguyễn Minh Tâm - Rà soát các quy định về quản lý nợ công để đảm bảo đầy đủ, thống nhất với hệ thống pháp luật (04/11/2025)
- Luật hóa các quy định về kênh phân phối, chuẩn hóa tư vấn, kiểm soát phí hủy hợp đồng sớm... (04/11/2025)
- Đoàn ĐBQH tỉnh tham gia thảo luận các luật liên quan đến an ninh, trật tự, bí mật nhà nước (03/11/2025)
- Đoàn ĐBQH tỉnh thảo luận tại tổ các dự án Luật (03/11/2025)
- Thảo luận kinh tế - xã hội: ĐBQH Quảng Trị kiến nghị giải quyết điểm nghẽn thị trường, gỡ vướng chính sách năng lượng và cán bộ cấp xã (30/10/2025)
- Đại biểu Nguyễn Minh Tâm: Cần cơ chế ràng buộc trách nhiệm trong thực thi chính sách bảo vệ môi trường (29/10/2025)
- Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị góp ý xây dựng pháp luật (24/10/2025)
- Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị góp ý xây dựng các dự án Luật tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV (24/10/2025)
- Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị góp ý xây dựng các dự án Luật tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV (23/10/2025)
- Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Bình tổ chức Đoàn Công tác 'Về nguồn' tại Tuyên Quang và Hà Nội (25/04/2025)










